A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

THÍCH ỨNG BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU, PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở ĐBSCL

Biến đổi khí hậu đang làm thay đổi sâu sắc điều kiện sản xuất và đời sống tại Đồng bằng sông Cửu Long, đặt ra yêu cầu chuyển từ ứng phó bị động sang chủ động thích ứng. Thực tiễn cho thấy, khi người dân được trang bị kiến thức, công nghệ, nguồn lực và có điều kiện chuyển đổi mô hình sản xuất, thích ứng với biến đổi khí hậu không chỉ giúp giảm rủi ro mà còn có thể trở thành động lực mở rộng sinh kế và phát triển kinh tế bền vững.

Chú thích ảnh

Nhân rộng các mô hình hiệu quả để thực sự trở thành động lực phát triển sinh kế bền vững và nâng cao khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu của người dân và địa phương. Ảnh: Duy Khương/TTXVN

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), điển hình là khu vực thành phố Cần Thơ, đang chịu những tác động ngày càng rõ rệt của biến đổi khí hậu. Hạn hán, xâm nhập mặn, mưa lớn, dông lốc và ngập úng cục bộ diễn ra thường xuyên, làm thay đổi điều kiện sản xuất và đời sống của người dân. Trong nông nghiệp, những biến động này ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất lúa, cây ăn trái và nuôi trồng thủy sản. Thời tiết thất thường cũng làm gia tăng rủi ro, khiến những hộ dân có nguồn vốn hạn chế gặp khó khăn trong duy trì và mở rộng sản xuất, trong khi các nhóm có điều kiện kinh tế khó khăn, trình độ tiếp cận kỹ thuật thấp và diện tích đất nhỏ trở thành những đối tượng dễ bị tổn thương nhất.

Từ thực tiễn đó có thể nhận thấy một mối quan hệ chặt chẽ giữa thích ứng với biến đổi khí hậu, chuyển đổi mô hình sản xuất, mở rộng sinh kế và phát triển kinh tế bền vững. Thích ứng trước hết phải trở thành nền tảng để người dân chủ động chung sống với những thay đổi của tự nhiên. Trang bị kiến thức, kỹ thuật và thông tin giúp thay đổi cách tiếp cận, từ sản xuất dựa chủ yếu vào kinh nghiệm sang chủ động thích ứng với điều kiện khí hậu và tài nguyên thay đổi.

Trên nền tảng đó, chuyển đổi mô hình sản xuất trở thành công cụ cụ thể để hiện thực hóa khả năng thích ứng. Những mô hình như tôm - lúa cho thấy việc chuyển đổi phù hợp với điều kiện tự nhiên có thể tạo ra hiệu quả kinh tế, đồng thời giảm rủi ro từ biến đổi khí hậu. Theo tài liệu, mô hình tôm - lúa có thể mang lại lợi nhuận khoảng 45 triệu đồng sau khi trừ chi phí. Khi mô hình mới chứng minh được hiệu quả, người dân có thêm niềm tin để đầu tư, mở rộng và đa dạng hóa nguồn thu nhập.

Một trong những mô hình thích ứng đáng chú ý là mô hình lúa - tôm. Trong điều kiện xâm nhập mặn, mô hình này được đánh giá có hiệu quả, với sản lượng khoảng 500 kg tôm/ha và giá bán bình quân 130.000 đồng/kg. Giá trị của mô hình không chỉ nằm ở kết quả sản xuất mà còn ở khả năng thích ứng với điều kiện sinh thái thay đổi, qua đó mở ra hướng chuyển đổi sinh kế phù hợp với thực tế của người dân.

Cùng với chuyển đổi sản xuất, việc xây dựng hệ thống thông tin và quản lý tài nguyên nước có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Các trạm quan trắc độ mặn, hiện có 14 trạm tại địa phương, cùng nền tảng giám sát trực tuyến theo thời gian thực tạo cơ sở để theo dõi diễn biến nguồn nước, hỗ trợ dự báo và ra quyết định. Đây là bước chuyển quan trọng từ sản xuất dựa trên kinh nghiệm sang quản lý và sản xuất dựa trên dữ liệu.

Nguồn lực tài chính cũng là một yếu tố quan trọng trong quá trình thích ứng. Chương trình cho vay vi mô “Hoàn trả lãi vay bằng hành động vì khí hậu” là một cách tiếp cận đáng chú ý khi kết hợp hỗ trợ vốn không lãi suất với việc khuyến khích người dân thực hiện các hành động bảo vệ môi trường. Bên cạnh đó, đào tạo kỹ thuật, quản lý tài chính và nâng cao nhận thức cho người dân, đặc biệt thông qua các câu lạc bộ thanh thiếu niên, góp phần hình thành năng lực thích ứng lâu dài cho cộng đồng.

Những mô hình và giải pháp trên cho thấy hiệu quả rõ nhất ở sự thay đổi tư duy sản xuất: từ kinh nghiệm sang kỹ thuật, từ ứng phó bị động sang chủ động, từ phụ thuộc vào một nguồn thu nhập sang đa dạng hóa sinh kế. Tuy nhiên, quá trình này vẫn gặp không ít hạn chế. Quy mô sản xuất hộ gia đình còn nhỏ lẻ, trình độ ứng dụng tiến bộ kỹ thuật của một bộ phận người dân còn thấp và nhiều hộ vẫn chưa mạnh dạn chuyển đổi mô hình sản xuất.

Để thích ứng trở thành động lực phát triển kinh tế, những điểm nghẽn về hạ tầng, nguồn nước, nguồn lực, khoa học - công nghệ, thể chế và quy hoạch cần tiếp tục được tháo gỡ. Hệ thống quản lý tài nguyên nước cần được hiện đại hóa hơn nữa để giảm sự phụ thuộc vào kinh nghiệm. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý môi trường và sản xuất cần được mở rộng, trong khi chính sách ứng phó cần dựa nhiều hơn trên dữ liệu thực tế và bằng chứng khoa học thay vì chỉ dựa vào các quyết định hành chính.

Liên kết vùng cũng là một yêu cầu quan trọng đối với ĐBSCL. Tuy nhiên, các tài liệu được cung cấp hiện chủ yếu đề cập đến sự phối hợp giữa Cần Thơ và các tổ chức quốc tế như KOICA, MYI; chưa đủ dữ liệu để kết luận chi tiết về mức độ và hiệu quả của liên kết giữa các tỉnh trong toàn vùng.

Từ thực tiễn trên, cần tiếp tục chuyển đổi vai trò của người dân, từ đối tượng chịu tác động của biến đổi khí hậu thành chủ thể chủ động thích ứng và lựa chọn hướng phát triển sinh kế. Cùng với đó, dữ liệu từ hệ thống quan trắc và công nghệ thông tin cần được sử dụng hiệu quả hơn trong quản lý tài nguyên nước, dự báo xâm nhập mặn và xây dựng chính sách. Các nguồn vốn vay ưu đãi cần tiếp tục được duy trì, tập trung vào những nhóm dễ bị tổn thương nhất.

Phát triển nông nghiệp sinh thái, hiện đại, hiệu quả và phát thải thấp cần được xem là một hướng đi quan trọng. Đồng thời, việc kết nối sản xuất với thị trường, hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm sẽ giúp người dân yên tâm hơn khi chuyển đổi mô hình và đầu tư vào những hướng sinh kế mới.

Từ góc độ chính sách, có thể rút ra ba luận điểm đáng chú ý. Thứ nhất, thích ứng “thuận thiên” cần gắn với chuyển đổi số; hệ thống quản lý tài nguyên nước dựa trên dữ liệu ICT có thể trở thành nền tảng giúp giảm sự phụ thuộc vào kinh nghiệm và hạn chế rủi ro kinh tế. Thứ hai, mô hình tài chính kết hợp hỗ trợ vốn với hành động vì khí hậu mở ra một hướng tiếp cận có tiềm năng trong huy động nguồn lực xã hội cho bảo vệ môi trường mà không tạo thêm áp lực tài chính cho người dân. Thứ ba, chính sách về biến đổi khí hậu cần hướng mạnh hơn vào việc nâng cao năng lực tự thích ứng của người dân, để họ có khả năng tự quyết định và vận hành các mô hình sinh kế phù hợp, thay vì chỉ tiếp nhận sự hỗ trợ một chiều từ chính quyền.

Thích ứng với biến đổi khí hậu vì thế không nên chỉ được nhìn nhận như một nhiệm vụ nhằm giảm thiểu thiệt hại. Nếu được đặt trong một chiến lược phát triển phù hợp, thích ứng có thể trở thành nền tảng để chuyển đổi sản xuất, mở rộng sinh kế, nâng cao thu nhập và tạo ra những động lực mới cho phát triển kinh tế bền vững ở Đồng bằng sông Cửu Long.

 

Nguyễn Mạnh Hiền, UVBCH Hội đồn Hòa bình và Phát triển Việt Nam

Tài liệu tham khảo

  1. Nền tảng thích ứng với biến đổi khí hậu - Bài 1: Mở rộng sinh kế, Báo Tin tức, 12/08/2026.
  2. Nền tảng thích ứng với biến đổi khí hậu - Bài cuối: Khi thích ứng thành chủ động, Báo Tin tức, 12/08/2026.